Thứ Ba, 30 tháng 12, 2008

Trang web về pháp luật

chao ca nha , to co duong link trang web ve phap luat nay , moi nguoi truy cap va co the xem toan bo ve luat thuong mai 2005 , day la trang web chinh thuc cua chinh phu http://vbqppl.moj.gov.vn/law/vi/2001_to_2010/2005/200506/200506140018/#300



--
Bui Cong Dat - Sale Engineering.
Silkroad HaNoi JSC.
Mobi Phone :0988441043 , Fax : 03203555505
Best Regard !

Thứ Năm, 25 tháng 12, 2008

Làm đơn xin phép hoãn thi

MỌI NGƯỜI CHÚ Ý.

NẾU AI BẬN CÔNG TÁC KHÔNG ĐI THI ĐƯỢC THÌ LÀM ĐƠN NỘP TRƯỚC LÚC THI ĐỂ THẦY GIÁO XEM XÉT SAU NÀY SẼ TÍNH ĐIỂM LẦN 1 HOẶC LẦN 2 CHO.

Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2008

Tạo thêm kênh chát trong Blog

Chào mọi người!
Hiện nay tôi đã đưa thêm 1 khung cửa sổ chát vào Blog của chúng ta. tại kênh này, chúng ta có thể trao đổi trực tiếp như trong 1 chatroom. Thật đơn giản. Các bạn muốn để tên hay không không cũng được. 
Kênh chát này hiện hỗ trợ rất nhiều người online một lúc.Các bạn có thể trao đổi, để lại lời nhắn và bên cạnh đó còn có cả biểu tượng mặt cười (thể hiện cảm xúc). 
Hi vọng đây sẽ là 1 công cụ tốt và mọi người sẽ thích nó

Ngọc

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2008

Cách điền thông tin cá nhân vào danh sách liên hệ của hộp thư gmail

Đề nghị các bạn điền thông tin cá nhân của mình vào mục contacts như theo hướng dẫn sau kèm theo.

Bước 1:

Bước 2:

Bước 3:


Bước 4:

Sau khi điền hết thông tin, nhớ nhấn SAVE.

Cảm ơn các bạn. Các bạn sẽ nhận được thư mỗi khi có thông tin về lớp: thời khoá biểu, lịch học, lịch thi, tài liệu học tập ... nếu tên bạn có trong contacts hộp thư của lớp.

Vì quyền lợi của mình, các bạn hãy nhanh chóng add tên mình vào contact list của lớp.

Chân thành cảm ơn.

Quản lý hộp thư và blog của lớp

Chào các bạn!

Để quản lý hộp thư và blog của lớp tốt hơn, tôi xin đưa ra ý kiến như sau:

1. Hộp thư là nơi để có thể lấy tài liệu học tập dưới dạng file đính kèm. Mọi người có thể tự do chia sẻ, up and down, tuỳ ý và tự chịu trách nhiệm về nội dung mình đưa ra. Tất cả các thư có nội dung không phù hợp với tiêu chí phục vụ việc học tập sẽ bị xoá.

2. Mọi tài liệu đã được upload lên hộp thư phải coi là tài nguyên chung của lớp và mọi người đều có trách nhiệm bảo vệ và không được tuỳ tiện xoá (delete) hay chuyển (move) lung tung.

3. Blog là nơi chúng ta thông báo, trò chuyện, trao đổi thông tin. Chỉ một số bạn có quyền tạo bài mới (lớp trưởng, lớp phó, các nhóm trưởng - nhóm phó, ban quản trị mạng của lớp - gọi cho oai), còn tất cả các bạn (kể cả không phải là thành viên của lớp) đều có thể đưa ra ý kiến bằng cách comment (có chế độ nặc danh - ko cần có account).

4. Tớ muốn kêu gọi tất cả các bạn nhiệt tình, có điều kiện và hiểu biết về internet cùng tham gia quản trị hộp thư và blog của lớp. Hiện tại tớ đang nhận trách nhiệm này. Nhưng tớ chỉ có điều kiện dùng Google, không dùng được Yahoo. Bên cạnh đó trình độ cũng có hạn. Tớ sẽ cố gắng trong khả năng của mình.

Tớ đề cử bạn Nguyễn Anh Ngọc, bạn Ngô Minh Lương vào nhóm quản trị mạng cho lớp.

5. Chúng ta nên bàn bạc về cách tổ chức và quản lý hộp thư và blog của lớp sao cho hiệu quả và rõ ràng về trách nhiệm.

Mong các bạn tiếp tục cho ý kiến.

Hồng Minh

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2008

Loạt bài về marketing - P1

Chào tất cả mọi người!

Thời đại toàn cầu hóa đã kéo theo sự cạnh tranh gay gắt trên toàn bộ các lĩnh vực kinh tế. Ngày nay, một sản phẩm tốt là chưa đủ để đảm bảo về doanh số, sức cạnh tranh... chính vì vậy mà marketing đã và đang ngày càng trở nên quan trọng trong môi trường kinh doanh hiện đại. Các kiến thức cơ bản về marketing các bạn có thể tìm thấy rất nhiều trên internet

Dưới đây mình xin giới thiệu một số bài viết hay về marketing. Hy vọng mọi người đọc sẽ thấy bổ ích và hưởng ứng để blog của lớp mình thiết thực hơn nữa.


Đầu tiên, mình xin giới thiệu 1 hình thức marketing mới - marketing du kích.

Guerilla Marketing - tiếp thị theo kiểu du kích


Mục đích chính của các công ty “cò con” là làm sao để phát triển, để có chỗ đứng vững chắc trên thương trường. Và do vậy, người ta sẵn sang dốc vốn liếng của mình vào kinh doanh, tuy nhiên, không phải ai cũng có thể mạo hiểm bỏ những đồng tiền xương máu của mình vào việc đẩy mạnh thương hiệu

Trong những trường hợp tương tự, tại các nước Tây âu, người ra đưa ra một loại hình dịch vụ mới – Guerilla Marketing (tạm dịch la kiểu tiếp thị du kích) - một hình thức marketing tương đối hấp dẫn hiệu quả với chi phí khiêm tốn để đưa được thương hiệu ra thị trường.

Bản chất của phương pháp marketing này như sau: các công ty nhỏ với lượng vốn kinh doanh ít ỏi nghĩ ra một hình thức tiếp thị độc đáo mà qua đó người tiêu dùng chính là người quảng cáo cho sản phẩm hay dịch vụ của họ. “Người ta không thể thường xuyên dán mắt lên màn hình vô tuyến để xem Bạn sẽ quảng cáo những gì. Cái chính là phải làm sao trong cuộc nói chuyện của người tiêu dùng, Bạn phải chèn vào đó những gì Bạn muốn họ biết đến” - một chuyên gia về marketing của hãng tư vấn BKG đã nhận xét. “Một khi có ai đó nghe được thông tin thú vị về công ty của Bạn, họ sẽ kể lại cho bạn bè người quen, bởi vậy ta phải cho them “gia vị” vào cuộc nói chuyện đó. Dĩ nhiên, công việc này không hề đơn giản chút nào, nhưng nếu đem so sánh với việc xây dựng một clip quảng cáo trên vô tuyến, ta có thể tiết kiệm được một khoản không nhỏ chút nào”

Cửa hàng bán lẻ qua mạng RuComp.ru sau khi đi vào hoạt động được khoảng ba tháng đã đưa ra một chương trình khuyến mại hết sức thú vị: người ta sẵn sang giảm giá 3% cho khách àhng nếu như ngoài trời có mưa rào lớn, và nếu chỉ là một cơn mưa bóng mây, khách hàng có thể được giảm giá 2%, còn nếu như thời tiết u ám – 1%. Thế là người ta đua nhau thông báo cho bạn bè, người thân cái tin sốt dẻo này bằng mọi hình thức từ điện thoại, truyền miệng cho đến Internet. Và như vậy, chi phí cho việc quảng cáo có thể nói là rất thấp, chi phí cho việc giảm giá cũng không tốn bao nhiêu nhưng ý tưởng quảng cáo hàng hóa kiểu này thì lại rất hấp dẫn người tiêu dùng. Sau đợt khuyến mại này, RuComp.ru đã không những “đẩy” được vô số hàng hóa tưởng chừng như tồn kho mà còn còn tăng được doanh số bán hàng lên 15%.

Tạp chí ICN đã từng đưa tin về Render Smith – ông chủ của hệ thống các quán cà phê Maine tại Portland đã chiến thắng đối thủ nặng ký Starbucks trong việc phát triển hệ thống của mình đến tận mọi hang cùng ngõ hẻm của các thành phố trên quê hương mình.

Không thể cạnh tranh với các đối thủ bằng kiểu “mạnh vì gạo, bạo vì tiền”, Render đã nghĩ ra mưu kế khác: bằng sự khôn khéo của mình, ông đã “bắn tin” cho dân chúng trong thành phố nơi ông kinh doanh rằng cà phê của ông là sản phẩm của chính địa phương nơi họ sống, khác với sản phẩm của “dân ngoại đạo” Starbucks. Và kết quả thật bất ngờ: người dân địa phương trở nên quay lưng với sản phẩm cả phê của Starbucks.

Một manager quảng cáo của cửa hàng bán máy vi tính đã kể lại một chiêu bán hàng thú vị như sau: trong một ngày máy tính xách tay giá 900USD sẽ được bán với giá 699USD, và những tuần tiếp theo sau sẽ tăng giá 20USD. “Thông tin về hàng hoá và giá cả đã được truyền đi với một tốc độ đáng kinh ngạc. Chỉ trong ngày đầu tiên, tất cả máy tính xách tay đã được người tiêu dùng khuân sạch


Best Regards,

Amarketing!

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2008

Kỹ thuật soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật ngôn ngữ pháp lý

NGOCSMS - Các văn bản quy phạm pháp luật cần được soạn thảo với một ngôn ngữ có độ chính xác tối đa nếu chưa thể đạt được giới hạn tuyệt đối. Các văn bản pháp luật được ban hành trước đây mắc không ít những sai sót về kỹ thuật soạn thảo, trong đó có cả cách diễn đạt. Cũng không có ít các ý kiến cho rằng các nhà soạn thảo văn bản pháp luật cố làm phức tạp ngôn ngữ pháp lý. Chính vì vậy, việc soạn thảo văn bản pháp luật cần được chú ý không chỉ ở vấn đề thẩm quyền, vấn đề thủ tục ban hành mà cả về kỹ thuật soạn thảo. Nội dung của văn bản sẽ không thể được chuyển tải đúng nếu cách thể hiện của chúng không chính xác, không khoa học. Các kỹ năng dưới đây sẽ giúp nhà soạn thảo có những văn bản chuẩn xác về ngôn ngữ và diễn đạt.
4.1. Sử dụng thời hiện tại, quá khứ và tương lai đúng với nội dung mà văn bản muốn thể hiện
Các hành vi của chủ thể pháp luật xẩy ra ở những thời điểm khác nhau. Các quy phạm pháp pháp luật phần lớn chỉ áp dụng đối với các hành vi xảy ra sau khi quy phạm pháp luật được ban hành có hiệu lực trừ rất ít những quy phạm có hiệu lực hồi tố. Vì vậy, khi diễn đạt một quy định pháp luật thì cần chú ý đến việc xác định thời điểm hành vi mà quy định chúng ta cần soạn thảo sẽ điều chỉnh. Điều này được thực hiện một cách chính xác nếu chúng ta sử dụng đúng các thời quá khứ, hiện tại, tương lai. Không ít các văn bản không chú ý đến vấn đề này nên dễ dẫn đến sự hiểu sai và áp dụng sai các quy định được ban hành.
4.2. Bảo đảm độ chính xác cao nhất về chính tả và thuật ngữ
Cách diễn đạt một quy phạm pháp luật phải bảo đảm độ chính xác về chính tả và thuật ngữ. Sai sót chính tả có thể xử lý được dễ dàng bởi đội ngũ biên tập song, sai sót về thuật ngữ thì chỉ có các nhà soạn thảo mới khắc phục được. Khi soạn thảo văn bản, người soạn thảo có những tư tưởng riêng của mình nên họ biết nên dùng thuật ngữ nào cho phù hợp, phản ánh đúng nội dung các quy định cần soạn thảo.
Một số quy tắc sau đây cần được đặc biệt chú ý để cho văn bản soạn thảo đạt độ chính xác cao.
4.2.1. Trong văn bản pháp luật mức độ thể hiện tính nghiêm khắc trong đòi hỏi của pháp luật đối với chủ thể. Cần xác định mức độ đòi hỏi của pháp luật bằng cách thể hiện nó trong diễn đạt các quy định pháp luật
- Khi nêu các giả định trong các quy phạm pháp luật thì nên dùng các cụm từ thể hiện khả năng chứ không dùng các từ hoặc cụm từ biểu đạt một sự khẳng định tuyệt đối. Các từ, ngữ thích hợp nhất và được dùng phổ biến nhất là : Nếu, Khi, Trong trường hợp, Hoặc, Hay v.v. Việc sử dụng các từ, ngữ này cũng cần phải linh hoạt để tránh lặp lại trong một quy định.
- Khi quy định những xử sự mà chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện thì dùng: Phải, có nghĩa vụ, cấm, không được
- Khi quy định những xử sự mà chủ thể có thể lựa chọn thực hiện hay không thực hiện thì dùng: Có quyền, được, được phép
- Khi quy định những xử sự mà chủ thể có thể lựa chọn thực hiện hay không thực hiện song pháp luật cần định hướng cho chủ thể thì dùng: nên, cần.
4.2.2. Tính phổ biến của thuật ngữ pháp lý được dùng trong các văn bản pháp luật
Đây là một đòi hỏi hết sức quan trọng có khả năng đảm bảo tính chính xác, hiệu quả của văn bản hay quy định cần soạn thảo. Tính phổ biến của thuật ngữ pháp lý đòi hỏi:
a) Thuật ngữ đó phải là thuật ngữ đã được dùng trong các văn bản pháp luật hay được dùng phổ biến trong luật học. Pháp luật được ban hành là để cho toàn thể xã hội hiểu, tuân thủ hoặc áp dụng. Vì vậy, việc người soạn thảo dùng những thuật ngữ mà mình mới sáng tạo ra, chưa từng được sử dụng trong các văn bản pháp luật trước đó hoặc chưa được công nhận rộng rãi để soạn thảo các quy định hay văn bản sẽ không tạo được cách hiểu thống nhất cho những người sẽ tuân thủ hay áp dụng chúng. Chưa nói đến các thuật ngữ mới, ngay cả thuật ngữ cổ, mặc dù đã được dùng trong các văn bản, nếu sử dụng không chọn lọc thì cũng đã gây nhiều khó khăn cho việc hiểu, tuân thủ và áp dụng pháp luật. Phải cần một thời gian dài hệ thống pháp luật nước ta mới bắt đầu sử dụng lại các thuật ngữ cổ như cáo tị, bãi nại, tống đạt .v.v. Muốn sử dụng các thuật ngữ cổ hay thuật ngữ mới sáng tạo thì ít nhất phải tạo được cách hiểu thống nhất về thuật ngữ đó. Nếu không tuân thủ yêu cầu này thì văn bản soạn thảo sẽ khó hiểu, khó được áp dụng thống nhất. Ví dụ, khái niệm chứng thư được sử dụng trong Nghị định 17/HĐBT ngày16/1/1990 là một khái niệm mới mà người soạn thảo đưa ra. Khái niệm này chưa có cách hiểu thống nhất. Bản thân khái niệm chứng thư theo cách hiểu trong tiếng Việt là văn bản xác nhận quyền tài sản và được sử dụng chủ yếu trên thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó trong hệ thống pháp luật của nước ta có khái niệm công chứng, chứng thực, xác nhận. Nghị định 17/HĐBT ngày 16/1/1990 quy định chứng thư là sự xác nhận việc các bên đã ký kết bản hợp đồng tại một cơ quan công chứng.
b) Khi pháp luật đã có các thuật ngữ pháp lý chính thức thì tuyệt đối phải sử dụng chúng. Nhiều người khi soạn thảo một số văn bản hướng dẫn về các biện pháp bảo đảm hợp đồng vẫn dùng khái niệm để đương, khế ước trong lúc Bộ luật dân sự và nhiều văn bản hiện hành khác đã dùng hợp đồng, thế chấp.
c) Phải tuân thủ nội hàm của khái niệm cần sử dụng và đặt chúng đúng vào văn cảnh của quy định cần soạn thảo. Ví dụ người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài không phải là một. Người nước ngoài là người mang quốc tịch một quốc gia khác. Người Việt Nam có thể là người nước ngoài nếu họ mang quốc tịch nước khác. Tuy nhiên, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn là người Việt Nam nếu họ không từ bỏ quốc tịch Việt Nam để gia nhập quốc tịch nước khác. Chính vì vậy, việc dùng khái niệm người nước ngoài để chỉ cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài là không chính xác và có thể làm phát sinh nhiều vấn đề pháp lý phức tạp. Điểm 5.5 của Thông tư số 01-NH5/TT ngày 28/4/1995 là một ví dụ cho việc dùng không đúng thuật ngữ pháp lý.
"Văn phòng đại diện phải đăng ký với Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở về số người nước ngoài làm việc tại văn phòng đại diện (bao gồm người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở ở nước ngoài) theo số lượng quy định tại Giấy phép".
Thuật ngữ pháp lý ý nghĩa rất lớn đối với việc đạt mục đích và tính chính xác của các quy định, hay văn bản cần soạn thảo. Việc lựa chọn thuật ngữ phải được người soạn thảo cân nhắc kỹ càng. Chẳng hạn, không thể dùng khái niệm hậu quả pháp lý để chỉ phí tổn nguyên vật liệu, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại; (Điều 19 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế). Hậu quả pháp lý chính là trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên đối với những phí tổn, những thiệt hại đó chứ không phải bản thân chúng. Chúng chỉ là những sự kiện thực tế xảy ra.
4.2.3. Chỉ sử dụng tiếng Việt chuẩn, không sử dụng phương ngữ
Bên cạnh việc sử dụng chính xác các thuật ngữ pháp lý, việc sử dụng chính xác ngôn ngữ diễn đạt khác cũng là một yêu cầu đáng lưu ý. Người soạn thảo văn bản phải dựa vào tiếng Việt chính thống để soạn thảo. Không nên thay "Rẽ trái" bằng "quẹo trái". Khi soạn thảo văn bản không được sử dụng phương ngữ. Trong báo chí, văn học việc sử dụng phương ngữ có thể làm cho tác phẩm sống hơn, gần với cuộc sống hơn song điều này lại hoàn toàn không thích hợp trong văn pháp lý. Việc sử dụng phương ngữ không tạo ra được cách hiểu thống nhất các quy định cần ban hành.
4.2.4. Khi chọn và sử dụng các thuật ngữ, kể cả thuật ngữ pháp lý lẫn thuật ngữ thông thường, người soạn thảo nên đặt cho mình những câu hỏi mang tính kỹ thuật sau:
a) Các văn bản pháp luật, các bản án trước đây đã sử dụng thuật ngữ này chưa?
b) Các thuật ngữ này hiện nay có được tiếp tục sử dụng phổ biến không?
c) Cách hiểu các thuật ngữ này có thống nhất không?
d) Pháp luật hay thực tế có yêu cầu sử dụng các thuật ngữ này theo một nội dung thống nhất không? Các thuật ngữ này có phải là một dạng phương ngữ không?
4.3. Sử dụng đúng kỹ thuật viện dẫn
Viện dẫn những quy định ở trong cùng văn bản hay từ các văn bản khác để soạn thảo văn bản là việc làm cần thiết. Đây là một trong những cách hiệu quả được dùng để loại bỏ sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản, các qui định, đảm bảo sự thống nhất của pháp luật. Tuy nhiên, việc sử dụng kỹ thuật viện dẫn không đúng có thể dẫn tới những hậu quả không tốt như việc áp dụng sai pháp luật, tình trạng mất thời gian khi tìm kiếm quy phạm được viện dẫn để áp dụng. Một trong những yêu cầu trước hết của viện dẫn là phải chỉ rõ quy định được viện dẫn. Nếu chỉ viện dẫn một quy định ở một văn bản khác thì chỉ rõ quy định đó chứ không nên viện dẫn tới toàn bộ văn bản để cho những người mà văn bản đó hướng tới phải tự tìm kiếm. Cách viện dẫn sau đây trong Bộ luật dân sự (BLDS) có thể được coi là một ví dụ. Điều 637 BLDS khi quy định về thừa kế quyền sử dụng đất đã viện dẫn đến Phần V của BLDS: "Việc thừa kế quyền sử dụng đất được thực hiện theo các qui định của phần V Bộ luật này". Phần V này gồm 5 chương và 54 điều gồm các điều từ 590 đến 644. Sẽ chính xác và dễ áp dụng hơn nếu điều 637 chỉ viện dẫn đến chương VI phần V của BLDS. Các chương còn lại của phần V BLDS không liên quan đến việc thừa kế quyền sử dụng đất.
Một yêu cầu khác của việc viện dẫn là đảm bảo tính phù hợp của đối tượng điều chỉnh của quy định viện dẫn và quy định được viện dẫn. Một quy phạm xử phạt hành chính không thể viện dẫn đến một hình phạt quy định trong Bộ luật hình sự như là một chế tài cho bản thân nó.
4.4. Dùng câu ngắn với trật tự lôgic
Câu văn dài có thể gây sự khó hiểu và dễ mất đi tính chính xác. Nhiều người cho rằng pháp luật nước ta thường hay được diễn đạt dài dòng và khó hiểu. Điều nay là thực tế và có cơ sở. Lý do chính là nhiều văn bản dùng câu quá dài. Quy định sau đây có thể là một ví dụ minh hoạ:
"Đối với hàng hoá, dịch vụ kinh doanh có điều kiện, các tổ chức hoặc cá nhân không được phép kinh doanh mà kinh doanh, hoặc được phép kinh doanh mà trong quá trình kinh doanh không thường xuyên đảm bảo các điều kiện qui định cho loại hàng hoá, dịch vụ đó, đều coi là hành vi kinh doanh trái phép, tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo qui định của pháp luật hiện hành" (Điều 15 Nghị định 36-CP ngày 5 tháng 1 năm 1995 của Chính phủ).
Câu văn này dài và khó, có nhiều chổ trùng lặp nhau có thể tránh. Trước hết cần tránh cụm từ kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ được lặp lại nhiều lần và sau đó có thể rút ngắn đoạn văn này như sau:
"Việc kinh doanh những hàng hoá, dịch vụ có điều kiện khi không được phép hoặc không đảm bảo các yêu cầu qui định đối với hàng hoá dịch vụ đó đều bị coi là hành vi kinh doanh trái phép và có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tuỳ theo mức độ vi phạm".
Quy định này từ chổ diễn đạt bằng 90 từ được rút ngắn còn 60 từ.
Sử dụng các câu ngắn, tránh các câu dài lê thê cũng là một trong phương pháp làm cho văn bản cần soạn thảo cô đọng, chính xác, các quy định ban hành ra dễ được hiểu đúng bởi các đối tượng mà chúng hướng tới. Có những lý do sau đây khiến chúng ta nên tránh các câu dài. Thứ nhất, về bản chất, các quy định pháp lý vốn rất khó. Vì vậy việc diễn đạt các quy định pháp lý bằng những câu văn dài càng làm cho chúng trở nên khó hiểu hơn nữa; Thứ hai, người soạn thảo khi dùng các câu dài thường vi phạm các qui tắc ngữ pháp một cách vô thức; Thứ ba, những đối tượng mà các qui định pháp luật hướng tới phần lớn không phải là các luật gia hay những đối tượng có trình độ am hiểu sâu về pháp luật. Vì vậy, các quy định pháp luật được thể hiện càng ngắn gọn thì càng có hiệu quả cao về khả năng tiếp nhận từ phía đối tượng.
Các quy định trong pháp luật hiện hành của nước ta thường được diễn đạt bằng các câu văn. Quy định sau đây trong Thông tư số 01-NH5/TT ngày 28/4/1995 có thể được coi là một ví dụ.
"Văn phòng đại diện phải đang ký với Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở về số người nước ngoài làm việc tại văn phòng đại diện (bao gồm người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở ở nước ngoài) theo số lượng qui định tại Giấy phép; số người Việt Nam làm việc tại văn phòng đại diện và có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho những người làm việc tại văn phòng đại diên thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế thu nhập theo luật định."
Quy định này có thể được diễn đạt chính xác hơn bằng các câu ngắn sau mà vẫn không làm thay đổi nội dung của nó.
"Văn phòng đại diện phải:
- Đăng ký với Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở, số lượng người làm việc tại văn phòng, bao gồm cả người nước ngoài được qui định tại Giấy phép và người Việt Nam.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho những người làm việc tại văn phòng đại diện thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thu nhập theo luật định".
Trên thực tế chúng ta rút quy định này từ 347 chữ xuống còn 256 chữ tức gần 1/3 mà nội dung của quy định không thay đổi.
4.5. Sử dụng tích cực kỹ thuật trình bày so le
Trình bày so le là cách phân các ý theo một trật tự hình thức mà mỗi ý, tùy theo vị trí của nó trong nội dung của quy định cần soạn thảo, sẽ được thể hiện bằng các ký hiệu riêng. Phương pháp trình bày so le giúp giảm bớt các từ ngữ thông thường, tăng khả năng hiểu của người đọc nhờ vào hình thức trình bày. Chính vì vậy phương pháp trình bày so le được dùng khá phổ biến trong các văn bản. Trong Bộ luật dân sự phương pháp này cũng được sử dụng khá nhiều. Ví dụ Điều 745 BLDS được trình bày như sau:
"Điều 80. Tác giả
1. Tác giả là người trực tiếp sáng tạo toàn bộ hay một phần tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
2. Những người sau đây cũng được công nhận là tác giả:
a) Người dịch tác phẩm từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác là tác giả của tác phẩm dịch đó;
b) Người phóng tác từ tác phẩm đã có, người cải biên, chuyển thể tác phẩm từ loại hình nay sang loậi hình khác là tác giả của tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể đó;
c) Người biên soạn, chú giải, tuyển chọn tác phẩm của người khác thành tác phẩm có tính sáng tạo là tác giả của tác phẩm biên soạn, chú giải, tuyển chọn đó"
Trong soạn thảo văn bản pháp luật, khi gặp phải những vấn đề phức tạp, liên quan nhiều sự vật thì nên sử dụng phương pháp trình bày so le. Quy định sau đây của Luật công ty 1990 có thể được trình bày ngắn gọn và dễ hiểu hơn bằng phương pháp nói trên. Điều 45 Luật công ty 1990 quy định:
"Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấp giấy phép thành lập công ty cho người, tổ chức bị cấm, cho người không được phép thành lập công ty; không cấp giấy phép, giấy đăng ký kinh doanh cho người, tổ chức đủ điều kiện thành lập công ty hoặc đăng ký kinh doanh; chứng nhận sai về số vốn gửi ở ngân hàng hoặc về giá trị tài sản bằng hiện vật của công ty, hoặc vi phạm các qui định khác của luật này, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo qui định của pháp luật."
Nếu sử dụng phương pháp trình bày so le chúng ta sẽ có thể soạn thảo quy định đó như sau:
"Tuỳ theo mức nặng nhẹ, các hành vi sau đây sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự:
a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn:
1. Cấp giấy phép thành lập công ty cho người, tổ chức bị cấm hoặc không được phép thành lập công ty;
2. Không cấp giấy phép thành lập hay giấy đăng ký kinh doanh cho người, tổ chức đủ điều kiện thành lập công ty hoặc đăng ký kinh doanh;
3. Chứng nhận sai về vốn gửi ở ngân hàng hoặc giá trị tài sản bằng hiện vật của công ty.
b) Vi phạm các quy định khác của Luật công ty".
4.6. Sử dụng thuật ngữ pháp lý
4.6.1. Xác lập thuật ngữ pháp lý
Thuật ngữ pháp lý là những từ, ngữ được pháp luật quy định về nghĩa. Việc xác lập thuật ngữ pháp lý là rất quan trọng, góp phần không nhỏ vào việc tạo ra cách hiểu thống nhất, chính xác về từ ngữ được sử dụng trong văn bản nói riêng và nội dung văn bản nói chung.
Thuật ngữ pháp lý cần được xác lập trong những trường hợp:
- Đưa ra khái niệm về những sự vật, hiện tượng, quy trình mới phát sinh trong đời sống xã hội, có liên quan đến nội dung dự thảo mà trong pháp luật chưa có quy định;
- Đưa ra khái niệm về những sự vật, hiện tượng, quy trình đã được pháp luật quy định nhưng chưa xác định chính thức về nghĩa;
- Đưa ra khái niệm mới để thay thế khái niệm cũ về những sự vật, hiện tượng, quy trình có liên quan tới nội dung dự thảo.

Khi xác lập thuật ngữ pháp lý, cần tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau:
- Nội dung của thuật ngữ pháp lý phải đầy dủ, rõ ràng, đủ để hiểu chính xác, thống nhất trong quá trình thực hiện văn bản quy phạm pháp luật ;
- Ưu tiên sử dụng từ có sẵn trong ngôn ngữ Tiếng Việt trong sáng, tránh hiện tượng lạm dụng từ cổ, từ ngữ không trong sáng, từ ngữ phiên âm từ tiếng nước ngoài;
- Nội dung của thuật ngữ pháp lý nên được hình thành trên cơ sở nghĩa cổ truyền, vốn có của từ, ngữ trong Tiếng Việt, nhưng có sự chuẩn hoá về nghĩa;
- Khi có nhiều từ cùng biểu đạt một sự vật, hiện tượng, quy trình thì nên chọn từ sát nghiã nhất, thường được sử dụng trong đời sống xã hội;
- Cần bảo đảm sự ngắn gọn về cấu trúc của thuật ngữ pháp lý, tránh tạo ra thuật ngữ quá dài, quá nhiều âm tiết, đặc biệt là trong trường hợp ghép nhiều từ hoặc sử dụng một ngữ để hình thành thuật ngữ pháp lý. Như vậy sẽ tiện lợi khi sử dụng;
- Chỉ phiên âm tiếng nước ngoài để hình thành thuật ngữ pháp lý trong các văn bản liên quan mật thiết tới pháp luật quốc tế, thường có trong những trường hợp cần bảo đảm sự hoà nhập với pháp luật các nước trong khu vực hoặc trên thế giới về những vấn đề đa quốc gia.
4.6.2. Tránh lặp các từ, cụm từ hay thuật ngữ đồng nghĩa hoặc các cụm từ vô nghĩa
Trong thực tế, nhiều nhà soạn thảo mang văn nói vào trong các văn bản pháp luật. Chính vì thế mà mà một số văn bản pháp luật chứa đựng những câu văn ít nghĩa nhưng lắm từ. Lý do chính là do những người soạn thảo nhiều khi không chú ý tránh lặp lại những khái niệm có cùng nội dung. Ví dụ:
"Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác nhằm mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình". (Điều 1 Pháp lệnh HĐKT).
Nếu biết cách tránh lặp lại các thuật có cùng nội dung sẽ rút ngắn được hình thức thể hiện quy phạm pháp luật và làm cho quy phạm trở nên chính xác và dễ hiểu hơn. Trong quy định nêu trên của Pháp lệnh HĐKT thì thuật ngữ văn bản và tài liệu là thuật ngữ đồng nghĩa. Mặt khác quy định này liệt kê các hoạt động song không thể liệt kê hết nên mức độ khái quát của nó không cao. Định nghĩa của BLDS về hợp đồng có mức độ khái quát và chính xác cao hơn. "Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự". (Điều 394 BLDS). Tính chất khái quát của điều 394 BLDS thể hiện ở chỗ nó không liệt kê, không dùng các cụm từ đồng nghĩa để miêu tả một khái niệm pháp lý mà chỉ khái quát bản chất của khái niệm.
Điều 9 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự cũng có thể rút ngắn hơn bằng cách tiếp cận như vậy. Điều 9 Pháp lệnh quy định như sau:
"Bản án, quyết định về vụ án lao động của toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân tôn trọng; người lao động, tập thể lao động, người sử dụng lao động và các cơ quan tổ chức, đơn vị có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của toà án phải nghiêm chỉnh chấp hành".
Quy định này của điều 9 Pháp lệnh có thể được diễn đạt như sau mà nội dung không hề bị thay đổi:
"Bản án, quyết định của toà án phải được chấp hành nghiêm chỉnh bởi các đương sự thụ án và phải được tôn trọng bởi mọi tổ chức, cơ quan và cá nhân."
Nếu diễn đạt theo cách này thì chúng ta rút gọn quy định được diễn đạt bằng 88 chữ xuống còn 33 chữ. Quy định được rút gọn này không liệt kê các đối tượng phải thụ án và các đối tượng có nghĩa vụ phải tôn trọng bản án, quyết định của toà án mà đưa ra những khái niệm có nội hàm lớn hơn, bao quát hơn. Chẳng hạn, khái niệm mọi tổ chức cá nhân có thể bao hàm hết các chủ thể của pháp luật, kể các những tổ chức, cá nhân nước ngoài. Chính vì lý do đó, phạm vi hiệu lực về chủ thể của quy định này rộng hơn nhiều so với bản thân quy định của Điều 9 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động.
Trong bất cứ ngôn ngữ của nước nào cũng chứa đựng các từ và thuật ngữ pháp lý đồng nghĩa. Vì vậy nếu trong trường hợp cần diễn đạt một khái niệm nào đó nhiều lần thì người soạn thảo nên tìm cách sử dụng các từ, khái niệm pháp lý đồng nghĩa khác. Làm như vậy quy định cần soạn thảo vẫn không thay đổi nội dung song sẽ súc tích hay và mạch lạc hơn. Chẳng hạn, nếu như chúng ta thay một vài từ trong Điều 83 Pháp lệnh thủ tục tục giải quyết các vụ án lao động thì quy định của Điều 83 này mạch lạc hơn. Điều 83 Pháp lệnh được diễn đạt như sau:
"Việc hoà giải tự nguyện giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động được ưu tiên giải quyết trước khi toà án ra quyết định giải quyết cuộc đình công."
Chúng ta thử thay một vài từ đồng nghĩa ở trong quy định này bằng những từ đồng nghĩa khác và so sánh tính chính xác giữa quy định của Điều 83 mới và điều 83 đã được sửa:
"Việc tự nguyện hoà giải giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động được Toà án ưu tiên xem xét trước khi ra quyết định giải quyết đình công".
Theo chúng tôi, thuật ngữ xem xét và giải quyết ở trong chừng mực nhất định có nội dung tương đồng. Tuy nhiên trong văn cảnh của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động và cụ thể là văn cảnh của Điều 83 thì việc thay giải quyết bằng xem xét vừa chính xác hơn, vừa làm cho diễn đạt của quy định này mạch lạc hơn do tránh lặp đi lặp lại khái niệm giải quyết.
Một cách thức khác để nâng cao độ chính xác trong việc diễn đạt các quy định của pháp luật là tránh lặp lại những từ không cần thiết hoặc chọn những từ ngắn nhất để diễn đạt quy định cần soạn thảo. Ví dụ: trong trong một số văn bản pháp luật đã ban hành các cụm từ sau đây thường được sử dụng: Khẳng định lại một lần nữa, tăng cường đẩy mạnh, đường quốc lộ I, vô hiệu và không có giá trị pháp lý, v.v. Chẳng hạn, không nên dùng: "Trong những trường hợp khi các các bên không thoả thuận địa điểm thực hiện hợp đồng thì địa điểm thực hiện hợp đồng là kho của bên giao hàng"...... mà nên dùng "Khi các bên không thoả thuận địa điểm thực hiện hợp đồng thì địa điểm thực hiện hợp đồng là kho của bên giao hàng". Khái niệm trong trường hợp và khi có nội dung tương đồng nhau.

Nguồn: Sổ tay nghiệp vụ soạn thảo, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật - Bộ Tư pháp

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2008

Lãnh đạo doanh nghiệp theo phong cách nào?

Lãnh đạo doanh nghiệp theo phong cách nào ?

Bạn là nhà quản lý ? Bạn đang lựa chọn cho mình một phong cách quản lý hoàn hảo để áp dụng với tất cả các nhân viên của mình? Đừng phí công lựa chọn bởi tất cả các chuyên gia quản lý hàng đầu đều đi đến thống nhất rằng, không có phong cách nào là tốt nhất. Thực tế, việc quản lý hiệu quả đòi hỏi nhiều phong cách quản lý khác nhau.

Cách tiếp cận như vậy gọi là "lãnh đạo theo tình huống". Hiệu quả của việc quản lý dưới góc độ một nhà quản lý (chứ không đo dưới góc độ hiệu quả công việc) được quyết định không phải bởi phong cách nhà quản lý đó ưa thích mà bởi sự phù hợp của phong cách quản lý với nhu cầu của nhân viên.

Lãnh đạo theo tình huống bao gồm việc sử dụng 4 phong cách quản lý khác nhau

- Quản lý kiểu hướng dẫn : Với phong cách này, nhà quản lý sẽ hướng dẫn nhân viên làm thế nào để hoàn thành công việc, kiểm tra chặt chẽ hoạt động của nhân viên và tự mình đưa ra hầu hết quyết định. Đây là phong cách thích hợp nhất để quản lý nhân viên mới vào nghề hoặc đối với những người thực hiện công việc không tốt. Tuy nhiên, nếu nhà quản lý chỉ sử dụng một phong cách này thì sẽ trở thành tiểu tiết, độc đoán.

- Quản lý kiểu tư vấn, hay kiểu "ông bầu" : Với phong cách này, nhà quản lý sẽ liên tục đưa ra các định hướng và buộc nhân viên cùng tham gia giải quyết vấn đề và tham gia vào quá trình ra quyết định. Để thực hiện được điều này, cần lôi kéo ý kiến của nhân viên, trả lời các câu hỏi được nêu ra và thể hiện sự hứng thú bàn bạc với từng cá nhân. Phong cách này thích hợp khi nhân viên không còn là những người mới đối với công việc nhưng cũng chưa đủ kỹ nǎng hoặc sự tự tin về khả nǎng thực hiên công việc của mình

- Quản lý kiểu hỗ trợ : Nhà quản lý sử dụng phong cách này khi nhân viên của anh ta đã có khả nǎng thực hiện một công việc được giao nhưng còn thiếu tự tin. Theo phong cách này, nhà quản lý như là nơi để nhân viên nêu ra những lo ngại và để bàn bạc về những khó khǎn. Tuy nhiên, thay vì giải quyết hộ họ những khó khǎn đó, nhà quản lý chỉ hỗ trợ họ. Làm như vậy sẽ tǎng cường tính độc lập và sự tự tin của nhân viên.

- Phong cách phân cấp hay uỷ quyền : Bạn sử dụng phong cách này với những nhân viên có cả kỹ nǎng và sự tự tin trong khả nǎng thực hiện một công việc. Xét trên nhiều giác độ, nhân viên như vậy tự quản lý mình và chỉ yêu cầu ở bạn những mục tiêu hoặc dự án mới, hoặc khi cần sự trợ giúp ở bạn. Tuy nhiên, cần nhớ rằng, nếu bạn sử dụng phong cách này trước khi nhân viên đã sẵn sàng trong công việc thì họ có thể cảm thấy rằng, bạn đã bỏ rơi họ.

ngocsms

Ai biết HTML giúp tôi nhé!

Hiện tôi đang định xây dựng một Shoutbox trên Blog của chúng ta để mọi người đều có thể vào chát được trong Shoutbox. Đưa ra ý kiến đồng thời được.

Nhưng chưa chèn được Shoutbox. Ai biết về HTML hoặc biết cách chèn Shoutbox vào Blog thì giúp tôi nhé. Cám ơn mọi người

Ngọc

Câu hỏi ôn tập môn "Khoa học quản lý" - Mr Chương

CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN ÔN TẬP

Câu 1: Khái niệm, bản chất của quản trị (quản lý). Hãy so sánh việc quản trị một hệ thống nói chung và quản trị một tổ chức?
Câu 2: Vai trò của quản trị đối với hiệu quả hoạt động của một tổ chức?
Câu 3: Các nguyên tắc đối với quản trị hoạt động của tổ chức?
Câu 4: Trình bày một cách tổng quát về các chức năng quản trị và sự liên kết giữa các chức năng đó?
Câu 5: Khái niệm, vai trò của việc lập kế hoạch trong quản trị hoạt động của tổ chức?
Câu 6: Các căn cứ của việc lập kế hoạch hoạt động?
Câu 7: Các nguyên tắc của việc lập kế hoạch hoạt động?
Câu 8: Trình bày về việc lựa chọn cơ hội và đánh giá các điều kiện tiền đề khi lập kế hoạch?
Câu 9: Trình bày về việc xây dựng ngân quỹ và đảm bảo điều kiện vật chất cho việc triển khai thực hiện kế hoạch?
Câu 10: Trình bày phương pháp đánh giá chất lượng của một bản kế hoạch?
Câu 11. Khái niệm, nội dung của chức năng tổ chức?
Câu12: Khái niệm, các nguyên tắc xây dựng cơ cấu tổ chức?
Câu13: Thế nào là tập quyền, phân quyền và uỷ quyền trong quản trị các tổ chức? Hãy nêu quá trình uỷ quyền và những tiền đề để có thể thực hiện quá trình đó có hiệu quả?
Câu 14: Trong những yêu cầu đối với cán bộ quản trị, theo anh (chị) yêu cầu nào quan trọng nhất, yêu cầu nào có thể bỏ qua? Tại sao?
Câu 15: Lý thuyết về nhu cầu của Maslow sự vận dụng lý thuyết đó trong quản trị?
Câu 16: Lý thuyết động cơ và động lực thúc đẩy và sự vận dụng lý thuyết đó trong quản trị?
Câu 17: Các phương pháp lãnh đạo, sự vận dụng các phương pháp đó trong quản trị?
Câu 18: Các phong cách lãnh đạo và sự vận dụng các phong cách đó trong quản trị?
Câu 19: Khái niệm và vai trò của kiểm tra trong quản trị?
Câu 20: Sơ đồ nguyên tắc của quá trình kiểm tra trong quản trị?

Giới Thiệu về Lean Manufacturing (Sản xuất tinh gọn)

Lean Manufacturing (tạm dịch là Sản Xuất Tinh Gọn) là một nhóm phương pháp, hiện đang được áp dụng ngày càng rộng rãi trên khắp thế giới, nhằm loại bỏ lãng phí và những bất hợp lý trong quy trình sản xuất, để có chi phí thấp hơn và tính cạnh tranh cao hơn cho nhà sản xuất.

Báo cáo này, do Mekong Capital soạn, là tài liệu giới thiệu khái quát về Lean Manufacturing (còn được gọi ngắn gọn là "lean"). Trong một thăm dò gần đây được đăng trên IndustryWeek, có khoảng 36% các doanh nghiệp sản xuất ở Mỹ đã triển khai hay đang trong quá trình triển khai lean. Một số thay đổi do Lean Manufacturing đặt ra có thể gây gián đoạn hoạt động sản xuất nếu không áp dụng đúng, đồng thời một vài phương diện của Lean Manufacturing không thể áp dụng cho mọi công ty.

1.1 Mục Tiêu của Lean Manufacturing:

Lean Manufacturing, còn gọi là Lean Production, là một hệ thống các công cụ và phương pháp nhằm liên tục loại bỏ tất cả những lãng phí trong quá trình sản xuất. Lợi ích chính của hệ thống này là giảm chi phí sản xuất, tăng sản lượng, và rút ngắn thời gian sản xuất.

Cụ thể hơn, các mục tiêu bao gồm:

1. Phế phẩm và sự lãng phí - Giảm phế phẩm và các lãng phí hữu hình không cần thiết, bao gồm sử dụng vượt định mức nguyên vật liệu đầu vào, phế phẩm có thể ngăn ngừa, chi phí liên quan đến tái chế phế phẩm, và các tính năng trên sản phẩm vốn không được khách hàng yêu cầu;

2. Chu kỳ sản xuất - Giảm thời gian quy trình và chu kỳ sản xuất bằng cách giảm thiểu thời gian chờ đợi giữa các công đoạn, cũng như thời gian chuẩn bị cho quy trình và thời gian chuyển đổi mẫu mã hay quy cách sản phẩm;

3. Mức tồn kho - Giảm thiểu mức hàng tồn kho ở tất cả công đoạn sản xuất, nhất là sản phẩm dở dang giữa các công đoạn. Mức tồn kho thấp hơn đồng nghĩa với yêu cầu vốn lưu động ít hơn;

4. Năng suất lao động - Cải thiện năng suất lao động, bằng cách vừa giảm thời gian nhàn rỗi của công nhân, đồng thời phải đảm bảo công nhân đạt năng suất cao nhất trong thời gian làm việc (không thực hiện những công việc hay thao tác không cần thiết);

5. Tận dụng thiết bị và mặt bằng - Sử dụng thiết bị và mặt bằng sản xuất hiệu quả hơn bằng cách loại bỏ các trường hợp ùn tắc và gia tăng tối đa hiệu suất sản xuất trên các thiết bị hiện có, đồng thời giảm thiểu thời gian dừng máy;

6. Tính linh động - Có khả năng sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau một cách linh động hơn với chi phí và thời gian chuyển đổi thấp nhất.

7. Sản lượng - Nếu có thể giảm chu kỳ sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm thiểu ùn tắc và thời gian dừng máy, công ty có thể gia tăng sản lượng một cách đáng kể từ cơ sở vật chất hiện có.

Hầu hết các lợi ích trên đều dẫn đến việc giảm giá thành sản xuất – ví dụ như, việc sử dụng thiết bị và mặt bằng hiệu quả hơn dẫn đến chi phí khấu hao trên đơn vị sản phẩm sẽ thấp hơn, sử dụng lao động hiệu quả hơn sẽ dẫn đến chi phí nhân công cho mỗi đơn vị sản phẩm thấp hơn và mức phế phẩm thấp hơn sẽ làm giảm giá vốn hàng bán.

Trong một bài điều tra của tạp chí Industry Week, các công ty Mỹ đang triển khai lean manufacturing cho biết trung bình có thể giảm 7% giá vốn hàng bán nhờ áp dụng Lean. Chúng tôi tin rằng mức tiết kiệm chi phí còn có thể cao hơn cho các công ty Việt Nam vì mức độ lãng phí ở đây thường cao hơn các nhà sản xuất ở Mỹ.

Một cách hiểu khác về Lean Manufacturing đó là việc nhắm đến mục tiêu: với cùng một mức sản lượng đầu ra nhưng có lượng đầu vào thấp hơn – ít thời gian hơn, ít mặt bằng hơn, ít nhân công hơn, ít máy móc hơn, ít vật liệu hơn và ít chi phí hơn.

Khi công ty Lantech, một công ty sản xuất thiết bị của Mỹ hoàn tất việc triển khai Lean năm 1995, công ty cho biết đã đạt được các cải tiến sau so với hệ thống sản xuất theo lô sản phẩm trong năm 1991 (theo James Womack, Daniel Jones & Daniel Roos: "The Machine that Changed the World"):

• Mặt bằng sản xuất trên mỗi máy giảm 45%;

• Phế phẩm giảm 90%;

• Chu kỳ sản xuất giảm từ 16 tuần xuống còn 5 ngày 14 giờ; và

• Thời gian giao hàng giảm từ 4-20 tuần xuống còn 1-4 tuần.

1.2 Các Nguyên Tắc Chính của Lean Manufacturing:

Các nguyên tắc chính trong Lean Manufacturing có thể được tóm tắt như sau:

1. Nhận thức về sự lãng phí – Bước đầu tiên là nhận thức về những gì có và những gì không làm tăng thêm giá trị từ góc độ khách hàng4. Bất kỳ vật liệu, quy trình hay tính năng nào không tạo thêm giá trị theo quan điểm của khách hàng được xem là thừa và nên loại bỏ. Ví dụ như việc vận chuyển vật liệu giữa các phân xưởng là lãng phí và có khả năng được loại bỏ.

2. Chuẩn hoá quy trình – Lean đòi hỏi việc triển khai các hướng dẫn chi tiết cho sản xuất, gọi là Quy Trình Chuẩn, trong đó ghi rõ nội dung, trình tự, thời gian và kết quả cho tất các thao tác do công nhân thực hiện. Điều này giúp loại bỏ sự khác biệt trong cách các công nhân thực hiện công việc.

3. Quy trình liên tục – Lean thường nhắm tới việc triển khai một quy trình sản xuất liên tục, không bị ùn tắc, gián đoạn, đi vòng lại, trả về hay phải chờ đợi. Khi được triển khai thành công, thời gian chu kỳ sản xuất sẽ được giảm đến 90%.

4. Sản xuất "Pull" – Còn được gọi là Just-in-Time (JIT), sản xuất Pull chủ trương chỉ sản xuất những gì cần và vào lúc cần đến. Sản xuất được diễn ra dưới tác động của các công đoạn sau, nên mỗi phân xưởng chỉ sản xuất theo yêu cầu của công đoạn kế tiếp.

5. Chất lượng từ gốc – Lean nhắm tới việc loại trừ phế phẩm từ gốc và việc kiểm soát chất lượng được thực hiện bởi các công nhân như một phần công việc trong quy trình sản xuất.

6. Liên tục cải tiến – Lean đòi hỏi sự cố gắng đạt đến sự hoàn thiện bằng cách không ngừng loại bỏ những lãng phí khi phát hiện ra chúng. Điều này cũng đòi hỏi sự tham gia tích cực của công nhân trong quá trình cải tiến liên tục.

1.3 Lịch Sử của Lean Manufacturing:

Nhiều khái niệm về Lean Manufacturing bắt nguồn từ Hệ thống sản xuất Toyota (TPS) và đã được dần triển khai xuyên suốt các hoạt động của Toyota từ những năm 1950. Từ trước những năm 1980, Toyota đã ngày càng được biết đến nhiều hơn về tính hiệu quả trong việc triển khai hệ thống sản xuất Just-In-Time (JIT).

Ngày nay, Toyota thường được xem là một trong những công ty sản xuất hiệu quả nhất trên thế giới và là công ty đã đưa ra chuẩn mực về điển hình áp dụng Lean Manufacturing. Cụm từ “Lean Manufacturing” hay “Lean Production” đã xuất hiện lần đầu tiên trong quyển "The Machine that Changed the World" (Cỗ máy làm thay đổi Thế giới - James Womack, Daniel Jones & Daniel Roos) xuất bản năm 1990.

Lean Manufacturing đang được áp dụng ngày càng rộng rãi tại các công ty sản xuất hàng đầu trên toàn thế giới, dẫn đầu là các nhà sản xuất ôtô lớn và các nhà cung cấp thiết bị cho các công ty này. Lean Manufacturing đang trở thành đề tài ngày càng được quan tâm tại các công ty sản xuất ở các nước phát triển khi các công ty này đang tìm cách cạnh tranh hiệu quả hơn đối với khu vực châu Á.

1.4 Trọng Tâm của Lean Manufacturing:

Lưu ý: Trong báo cáo này, thuật ngữ “khách hàng” chỉ cả khách hàng bên ngoài công ty mua thành phẩm cũng như khách hàng nội bộ chẳng hạn như công đoạn sản xuất kế tiếp nhận bán thành phẩm. Tương tự, thuật ngữ “nhà cung cấp” chỉ cả các công ty bên ngoài cung cấp nguyên vật liệu hay dịch vụ cũng như nhà cung cấp nội bộ là công đoạn trước trong quy trình sản xuất.

1.5 Những Doanh Nghiệp nào sẽ Được Lợi từ Lean Manufacturing?

Lean Manufacturing được sử dụng rộng rãi nhất trong các ngành công nghiệp thiên về lắp ráp hoặc có quy trình nhân công lặp đi lặp lại. Trong những ngành công nghiệp này, tính hiệu quả và khả năng chú tâm vào chi tiết của công nhân khi làm việc với các công cụ thủ công hoặc vận hành máy móc có ảnh hưởng lớn đến năng suất. Ở các công ty này, hệ thống được cải tiến có thể loại bỏ nhiều lãng phí hoặc bất hợp lý.

Với đặc thù này, có một số ngành cụ thể bao gồm xử lý gỗ, may mặc, lắp ráp xe, lắp ráp điện tử và sản xuất thiết bị. Vì Lean Manufacturing loại bỏ nhiều vấn đề liên quan đến lịch sản xuất và cân bằng chuyền kém nên Lean Manufacturing đặc biệt thích hợp cho các công ty chưa có hệ thống Hoạch định Nguồn lực Doanh nghiệp (ERP) hoặc chưa có hệ thống để hoạch định yêu cầu vật tư (MRP), lịch sản xuất hay điều phối sản xuất.

Điều này đặc biệt quan trọng ở Việt Nam vì chúng tôi nhận thấy nhiều công ty tư nhân Việt Nam đang hoạt động dưới mức công suất khá đáng kể, hoặc thường giao hàng không đúng hẹn do các vấn đề trong hệ thống quản lý và lên lịch sản xuất.

Lean Manufacturing cũng thích hợp cho các ngành có chiến lược ưu tiên việc rút ngắn thời gian chu kỳ sản xuất tới mức tối thiểu để tạo được thế mạnh trong cạnh tranh cho công ty. Gần đây một vài doanh nghiệp trong nước đã chủ động tiến hành đào tạo và áp dụng các phương pháp lean nhằm loại trừ những bất hợp lý trong hoạt động kinh doanh dẫn đến việc cải thiện thời gian quy trình sản xuất và dịch vụ.

Chẳng hạn như Toyota Bến Thành, một trung tâm dịch vụ bảo trì xe của Toyota ở Việt Nam, qua quá trình áp dụng lean đã giảm thiểu đáng kể quy trình dịch vụ bảo trì xe từ 240 phút xuống chỉ còn 45-50 phút cho mỗi xe đồng thời tăng lượng xe được bảo trì trong ngày từ 4-6 xe lên tới 16 xe tại mỗi điểm bảo trì. Toyota Bến Thành đã đạt được những giảm thiểu đáng kể về thời gian quy trình bằng cách loại bỏ thời gian chờ đợi không cần thiết cùng với các thao tác và di chuyển không hợp lý của công nhân.

To be continued...ngocsms

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2008

lập kế hoạch trong sản xuất

Bài giảng dạng Slide. Ai muốn lấy bài giảng gốc thì ghé qua hòm mail của lớp. - ngocsms

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2008

Khai trương Blog!

Everybody!

Blog của lớp chúng ta: Quản trị doanh nghiệp K29 - văn bằng II chính thức đưa lên từ ngày hôm nay 26/11/2008.

Mọi người cùng đóng góp ý kiến để cho Blog ngày càng phát triển

Cám ơn và chào thân ái

Nguyễn Anh Ngọc
ngocsms@gmail.com